Điều còn ngỏ và mối lo
Mục này gom mọi chỗ yếu vào một chỗ, thay vì rải chúng ra cho khó cộng lại: cái đã chạy thật, cái còn mở, và những câu hỏi khó nhất mà người đọc kỹ sẽ đặt ra. Nếu bạn chỉ đọc một mục trong cả tài liệu để quyết định có tin dự án này không, hãy đọc mục này.
Điều đã chứng minh, điều còn mở
Mục này đặt bằng chứng cạnh khoảng trống, trong cùng một bảng, để không ai phải tự ghép hai danh sách lại với nhau. Theo bốn nhãn ở mục Trước khi bạn đọc: bảng thứ nhất là ĐANG CHẠY, bảng thứ hai là những chỗ còn ĐỀ XUẤT hoặc CÒN TRỐNG.
Đã chạy thật, và lặp lại được
| Thí nghiệm | Chứng minh điều gì |
|---|---|
| Dựng, vận hành, rồi chủ động tháo bỏ một chain công khai chạy liên tục nhiều tuần | Nền tảng dựng ra chain sống được, và tháo được; cả hai chiều đều đã chạy |
| Cụm hai validator chia đôi quyền: tắt node của khách thì chain đứng, bật lại thì hồi phục | "Không một bên nào kiểm soát" là mô tả đúng, không phải khẩu hiệu |
| Cụm bốn validator: giết một thì chạy tiếp, giết hai thì dừng, khởi động lại thì hồi phục | Ngưỡng đồng thuận hành xử đúng như lý thuyết |
| Nâng cấp qua hai phiên bản, có di trú làm đổi dữ liệu thật trên chain | Đường nâng cấp trên chain hoạt động |
| Thao tác tuân thủ đòi nhiều chữ ký: thiếu một chữ ký thì bị từ chối | Việc tách quyền giữ khoá có hiệu lực thật |
| Khôi phục thảm hoạ đầu cuối: sao lưu, xoá, khôi phục, node chạy tiếp mà không phải sinh lại chain | Có đường sống lại sau sự cố |
| Gói genesis dựng bằng đúng engine thật, qua trọn bộ cổng kiểm, rồi khởi động thật | Genesis không phải bản nháp |
| Hiến pháp đóng băng bằng mã băm công bố trước khi khắc | Văn bản trên chain khớp văn bản đã công bố, ai cũng băm lại kiểm được |
Còn mở, và vì sao
| Bài toán | Bản chất |
|---|---|
| Độ chín của nền EVM | Nền còn ở giai đoạn trước bản ổn định. Giảm nhẹ bằng ghim phiên bản, giữ tải thấp, và chừa đường nâng cấp. Đây là rủi ro kỹ thuật lớn nhất |
| Thực thi tuần tự | Máy ảo xử lý tuần tự; đủ cho tải permissioned thấp, chưa đủ ở quy mô lớn |
| Từ tổ chức tới cá nhân | Ba cổng tự phục vụ ở mục Cỗ máy sinh chain, mỗi cổng cần một lớp hạ tầng khác |
| Định danh dùng chung | Cần một lược đồ định danh được công bố, không chỉ một module tuân thủ |
| Cách nhận phần token | Bỏ trống có chủ đích, chờ biểu quyết |
| Phân tán theo miền hỏng | Chịu lỗi thật đến từ số máy độc lập; đạt được nó phải gỡ vài ràng buộc hạ tầng trước |
| Riêng tư nâng cao | Mempool mã hoá, môi trường thực thi tin cậy, chứng minh không tiết lộ; chưa cần ở giai đoạn này |
| Kiểm định độc lập | Tự soát không thay thế được đánh giá của bên thứ ba |
| Khung pháp lý | Khu vực pháp lý và pháp nhân quyết định toàn bộ chế độ giấy phép |
Hình 20 — Bằng chứng mạnh luôn đi kèm giới hạn của chính nó.
Danh sách bên phải dài có chủ đích. Một dự án hạ tầng không có danh sách như thế thì hoặc chưa đủ sâu để gặp vấn đề, hoặc đang giấu.
Câu chốt: bằng chứng mạnh là bằng chứng kèm theo giới hạn của chính nó.
Phản biện
Mục này chỉ giữ những câu hỏi mà các mục trước không trả lời, chứ không nhắc lại nội dung đã có.
Permissioned thì còn gì là blockchain? Câu hỏi đúng hơn là ai cần không tin ai. Trong một consortium, các bên không tin nhau dù đều biết mặt nhau; ở đó, tính bất biến, khả năng kiểm toán và cơ chế đa bên vẫn giữ nguyên giá trị. Ngoài ra permissioned chỉ là một tham số: tắt nó thì chain hoạt động như một chain EVM công khai bình thường.
Mạng đã sinh lại nhiều lần, sao tin được? Vì đó là thiết kế được công bố trước, không phải sự cố bị giấu. Điều đáng đòi hỏi ở một dự án hạ tầng không phải "chưa bao giờ làm lại", mà là mỗi lần làm lại đều nói trước và kiểm chứng được. Một dự án chưa bao giờ sinh lại mạng có thể chỉ là một dự án chưa từng dám sửa sai lầm nền móng của mình.
Nếu công ty đứng sau biến mất thì sao? Đó chính là bài kiểm tra mà cam kết tháo giàn giáo hướng tới, và tài liệu này không giả vờ đã qua được nó. Thước đo trung thực là câu hỏi: còn bao nhiêu việc phải có một khoá quản trị mới làm được? Con số ấy đi xuống thì cam kết là thật; nó đứng yên thì cam kết chỉ là lời.
Ai chịu trách nhiệm khi một chain khách làm sai? Nền tảng vận hành chain; bên phát hành phát hành tài sản và chịu giấy phép của họ. Ranh giới ấy là chủ đích, không phải cách né. Nhưng nó chỉ đứng vững khi được viết vào hợp đồng và được luật sư ở đúng khu vực pháp lý xác nhận, và đó là việc chưa xong.
Nói là "của cộng đồng", nhưng cộng đồng đã quyết được gì chưa? Chưa gì cả, và tài liệu này nói thẳng ngay ở mục Trước khi bạn đọc: chưa một dòng nào ở đây đi qua một cuộc biểu quyết. Nên câu hỏi đúng không phải "cộng đồng đã quyết gì" — với một dự án chưa ra mạng chính thức thì câu trả lời luôn là chưa — mà là "cộng đồng đổi được gì, và cửa nào đang chặn". Cả hai đều có câu trả lời viết sẵn: bốn cái nhãn nói cái gì đổi được, ba cửa còn nợ ở mục Kết luận nói cái gì đang chặn và ai phải mở. Một dự án tự nhận là của cộng đồng mà không liệt kê nổi cửa đang đóng mới là dự án đáng ngờ.
Nếu cộng đồng đổi được gần như mọi thứ, lấy gì giữ cho dự án không bị lái đi chỗ khác? Đó đúng là việc của danh sách KHẮC. Nó ngắn, nhưng nó chặn đúng những cửa mà một bên muốn chiếm buộc phải đi qua: không phần cho đội ngũ, không phần cho quỹ, không premine, không bán cho ai. Cộng thêm ngưỡng không cho bất kỳ bên nào nắm quá một phần ba quyền biểu quyết. Cân bằng ở đây không phải "cộng đồng quyết mọi thứ", mà là cái đã khắc thì không ai đụng được, còn cái để mở thì mở thật.
Vì sao dự án nói về giới hạn của mình nhiều đến thế? Vì trong một ngành mà gần như mọi tài liệu đều tuyên bố thắng ở mọi trục, một danh sách giới hạn cụ thể là tín hiệu rẻ nhất mà kẻ nói dối không muốn bắt chước. Người đọc kỹ sẽ dùng chính danh sách ấy để kiểm tra chúng tôi.
Câu chốt: vài câu hỏi ở trên được trả lời bằng cách chỉ chỗ để bạn tự kiểm, chứ không bằng một lời khẳng định. Đó là chủ đích.